Trang nhất » Tin Tức » Kiến thức cho bạn » Sức khỏe bà mẹ trẻ em

Những nguyên nhân gây ngất ở trẻ và xử trí

Thứ ba - 12/05/2015 23:53
Ngất là trạng thái mất ý thức đột ngột, thoáng qua làm người bất tỉnh, da tái nhợt. Phổi không thở hoặc như người ngạt thở. Tim không đập hoặc đập rất chậm và khẽ. Ngất liên quan đến tình trạng thiếu oxy não lan tỏa tạm thời. Ngất chiếm khoảng 1% số bệnh nhân nhập viện và 3% số bệnh nhân trẻ em cấp cứu (theo một nghiên cứu từ Mỹ).
Những nguyên nhân gây ngất ở trẻ và xử trí

Những nguyên nhân gây ngất ở trẻ và xử trí


Dấu hiệu nhận biết trẻ bị ngất.
Thông thường, trước khi ngất trẻ sẽ có triệu chứng choáng váng hoặc mắt tối xầm lại, ù tai, cảm giác buồn nôn hoặc nôn, mặt tái nhợt và toát mồ hôi lạnh, ta gọi đây là giai đoạn tiền triệu. Giai đoạn này xảy ra rất nhanh, hiếm khi quá 30 giây. Tuy nhiên, trong một số trường hợp trẻ lại không có giai đoạn tiền triệu này (nhịp nhanh thất, rung thất hoặc vô tâm thu gây ra ngất). Vào lúc khởi đầu của cơn ngất bệnh nhân thường ở tư thế đứng, cho nên giai đoạn tiền triệu này có thể giúp bệnh nhân có thời gian để nằm xuống tránh được các chấn thương do té ngã.
Tình trạng mất ý thức dài hay ngắn, còn nhận biết môi trường xung quanh hay hôn mê sâu thì tuỳ thuộc vào từng bệnh nhân, có khi kéo dài vài giây đến vài phút hoặc có thể lâu đến 30 phút. Thường thì ý thức của bệnh nhân sẽ phục hồi ngay nhưng ở 1 số bệnh nhân vẫn còn cảm thấy yếu ớt, và đứng dậy quá sớm có thể gây ra một cơn ngất khác.

Nguyên nhân gây ngất:
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra ngất. Thường gặp nhất là ngất có nguồn gốc phó giao cảm (20 -40%) và khoảng 30% là không tìm thấy nguyên nhân.

- Do bệnh tim bẩm sinh:
+ Ngất xảy ra trên các bệnh nhân bị loạn nhịp tim, nhịp chậm (dưới 40 lần/phút), nhịp nhanh kích phát (trên 140 lần/phút). Khi nhịp tim quá nhanh, có nhiều nhát bóp không hiệu quả, máu không đủ để nuôi các cơ quan, đặc biệt là não nên dễ ngất.
+ Ngất gặp trên các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp, u nhầy nhĩ trái, tràn dịch màng ngoài tim cấp, phình tách động mạch chủ, hẹp lỗ van động mạch chủ. Các bệnh trên cơ thể đưa đến giảm thấp đột ngột độ bão hòa oxy của máu động mạch, máu không đủ cung cấp oxy cho hành não.
+ Ngất do chứng hạ huyết áp tư thế: Khi huyết áp tâm thu tụt đến 30mmHg, hoặc huyết áp tâm trương tụt đến 15mmHg khi thay đổi từ tư thế nằm sang tư thế ngồi.
+ Ở bệnh tâm phế mạn ngất có thể xảy ra khi gắng sức hoặc do bệnh nhân dùng một số thuốc ức chế trung tâm hô hấp, như các thuốc có thuốc phiện, các loạithuốc ngủ.

- Ngất do nguyên nhân ngoài tim mạch.
Các nguyên nhân ngoài tim thường hay gặp và nhẹ hơn.
+ Ngất do các bệnh về hô hấp.
Do ngừng hô hấp trong các trường hợp gây mê, trường hợp bị điện giật, chết đuối, viêm tủy xám, nhồi máu phổi, ngộ độc hơi độc (oxid carbon chẳng hạn). Ngất do những cơn ho kịch phát, các cơn ho làm gián đoạn tuần hoàn phổi và gây ra một tình trạng thiếu oxy ở não.
Trong tăng thông khí, thường gặp bệnh nhân bị choáng váng, đôi khi ngất, xảy ra chủ yếu ở những người thần kinh bị kích động và lo âu, bệnh nhân thở nhanh và sâu làm đào thải khí carbonic quá mức, gây tình trạng nhiễm kiềm hô hấp thứ phát. Biểu hiện là bệnh nhân bị lú lẫn, chóng mặt, có cảm giác kiến bò, run lẩy bẩy, có khi có cơn co giật.
+ Ngất do rối loạn thần kinh.
+ Do cường phó giao cảm: Thường gặp ở những người có thần kinh yếu hay bị sợ hãi, khi bị kích thích đau hoặc quá xúc động do trông thấy những cảnh tượng rùng rợn như tai nạn chết người, chảy máu... Ngất còn xảy ra trong trường hợp chọc tháo dịch màng phổi, cổ chướng quá nhanh, tháo nước tiểu ở bàng quang đang rất căng.
+ Ngất phản xạ: Có hội chứng xoang cảnh (nằm ở 2 bên cổ). Do xoang động mạch cảnh cảm thụ quá mức, chỉ cần một cái đụng nhẹ, cạo râu, xoay đầu, cổ áo quá chật cũng gây ra phản ứng mạnh làm tim đập chậm, giãn mạch, huyếp áp hạ đưa đến ngất.
+ Ngất do phản xạ còn gặp trong các trường hợp cơn đau quặn thận, niệu quản, do chấn thương như đấm vào vùng trên rốn (chơi quyền anh, đấm vào đám rối giao cảm), sang chấn tinh hoàn, vùng thanh quản.
+ Ngất do não: Trong u não, chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não... gây thiếu oxy não khu trú.
+ Ngất trong các bệnh đường tiêu hóa: Như đầy hơi, khó tiêu, viêm ruột, đặc biệt chảy máu đường tiêu hóa dễ gây ngất.
+ Ngoài ra chúng ta cũng có những bệnh cảnh lâm sàng tương tự như ngất như : động kinh, chóng mặt, tăng thông khí, cơn thoáng thiếu máu não,cơn hạ đường huyết hoặc Hysteria.

Các biện pháp xử trí tại chỗ khi trẻ ngất.
- Khi trẻ bị ngất, cần tránh cho trẻ bị chấn thương và bảo đảm là vẫn đang tự thở, có mạch (kiểm tra động mạch cảnh ở ngay dưới hàm). Nếu trẻ không tự thở hoặc không có mạch, phải gọi ngay cấp cứu. Nếu tự thở và có mạch, cần để trẻ nằm dưới nền cứng và phẳng rồi từ từ nâng nhẹ chân lên cao, tuyệt đối không nâng ngay bệnh nhân dậy.
- Ngất có thể do nhiều nguyên nhân gây ra hoặc không có nguyên nhân và có thể nhầm lẫn triệu chứng với những bệnh khác. Vì thế khi phụ huynh thấy trẻ có cơn ngất như nêu trên, hãy cho trẻ đến những cơ sở chuyên khoa Nhi để được khám và kiểm tra nhằm tìm nguyên nhân của bệnh . Bởi vì những bệnh nhân bị ngất không rõ nguyên nhân có tỉ suất tử vong sau 1 năm là 6% và tần suất đột tử là 4%, còn  những bệnh nhân bị ngất do nguyên nhân tim thì có tỉ suất tử vong sau 1 năm là từ 18 -33% và tần suất đột tử là 24%. Vì thế đây là một tình huống cần phải cảnh giác, chớ có bỏ qua vì nó sẽ có thể gây ra những hậu quả nặng nề về sau.
- Đối với trẻ có nguy cơ bị ngất do phản xạ thần kinh tim, cách tốt nhất là tránh môi trường quá nóng hoặc người quá đông. Cần uống nhiều nước, bổ sung thêm muối. Ngoài ra, có thể dùng các thuốc chẹn beta giao cảm như Propranolol, Atenolol, Metoprolol, Bisoprolol. Nếu các biện pháp trên thất bại, có thể xem xét việc cấy máy tạo nhịp.
- Đối với trẻ hay bị ngất khi thay đổi tư thế, cần dùng thuốc theo chỉ định và tránh đi tất chân chặt, nằm ngủ cao đầu. Còn với trường hợp ngất do rối loạn nhịp, có thể dùng máy tạo nhịp tim nếu nhịp chậm, hoặc dùng thuốc điều chỉnh nhịp hay sóng radio trong trường hợp nhịp tim quá nhanh.


Liên hệ 19006690 để cập nhật các thông tin sức khỏe, y tế và nhận các giải đáp từ chuyên gia!
 
Chuyên gia tư vấn Xuân Tâm (Tổng đài Sức Khỏe Việt).
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hỗ trợ trực tuyến


Tư vấn sức khoẻ - Tâm lý - Tình cảm  





(Gặp Bác sĩ: 1900.6690)

# # # # # # # # # # # #